TRANG CHỦ HOTLINE: 0986.704.567 - 0985.705.931     ALBUM ẢNH LIÊN HỆ
CHỮA TRỊ CÁC BỆNH
Bản in
Chữa trị viêm tắc động mạch tại TP Vinh Nghệ An
Tin đăng ngày: 26/11/2019 - Xem: 850

Tắc động mạch nuôi chi cấp tính xảy ra do sự tắc nghẽn đột ngột lòng động mạch bởi cục máu đông hay một mảng xơ vữa… Đây là cấp cứu ngoại khoa tim mạch, hậu quả là làm thiếu máu nuôi cấp tính phần chi mà động mạch đó nuôi dưỡng. Nếu tình trạng thiếu máu nuôi này không được giải quyết thì phần chi bị thiếu máu nuôi sẽ hoại tử trong vòng vài giờ đến vài ngày.

Tắc động mạch nuôi chi cấp tính (TĐMNCCT) có thể xảy ra do vật nghẽn tắc từ một nơi khác trong hệ tuần hoàn đi tới trong nghẽn động mạch cấp tính (acute arterial embolism) hoặc xảy ra do hình thành cục máu đông ngay tại chỗ nối động mạch bị tắc trong huyết khối động mạch cấp tính (acute arterial thrombosis).

Chữa trị viêm tắc động mạch tại TP Vinh Nghệ An

I. Biểu hiện lâm sàng

Đau: xảy ra đột ngột và dữ dội ở chi bị tắc mạch và buộc bệnh nhân phải ngưng mọi sinh hoạt.

Dị cảm: với cảm giác tê bì và cảm giác kiến bò. Cảm giác nông ngoài da thường bị giảm và mất trước, sau đó bệnh nhân mất luôn cảm giác sâu.

Chi lạnh: Tại vùng chi bị tắc động mạch, chi lạnh hơn bên không bị tổn thương, trường hợp bệnh nhân tới muộn sờ vào cảm giác lạnh như vật chết.

Sự thay đổi màu sắc ở chi: Ngay sau khi động mạch bị tắc da ở vùng chi bị thiếu máu nuôi trở nên tái nhợt hơn so với bên chi lành, sau đó sẽ xuất hiện những đóm tím rải rác do sự xuất huyết hoại tử ở vùng mô thiếu máu nuôi.

Mất mạch dưới chỗ động mạch tắc: Đây là dấu hiệu khách quan để xác định TĐMNCCT. Mất mạch ngoại biên cùng với dấu hiệu chi lạnh và sự thay đổi màu sắc ở da là các dấu hiệu khách quan rất có giá trị trong chẩn đoán TĐMNCCT.

Dấu hiệu liệt cơ: thông thường sau khi động mạch bị tắc các cơ bị thiếu máu sẽ bị giảm chức năng, cử động các ngón ở chi bị tắc động mạch yếu hơn bên lành, sau đó cơ bị liệt hoàn toàn.

II. Các dấu hiệu cận lâm sàng

X quang động mạch: X quang động mạch không những cho phép xác định chính xác vị trí động mạch bị tắc mà còn giúp đánh giá các tổn thương bị tắc mà còn giúp đánh giá các tổn thương thành mạch cũng như hệ thống các vòng nốI tại vùng động mạch bị tắc nghẽn.

Trong nghẽn động mạch cấp tính ta thường thấy dấu hiệu động mạch bị cắt cụt, và tuần hoàn bàng hệ rất nghèo nàn.

Trong trường hợp tắc động mạch cấp tính trên bệnh nhân có xơ vữa động mạch, phần động mạch trên chỗ tắc có những hình ảnh khuyết nham nhở trên thành động mạch và hệ thống tuần hoàn bàng hệ phát triển khá tốt.

Siêu âm Doppler động mạch: Đây là phương pháp chẩn đoán không chảy máu cho phép đánh giá cả về hình ảnh và huyết động.

Với siêu âm Duplex màu cho phép ta dễ dàng xác định vị trí động mạch bị tắc nghẽn với:

Khi phân tích đường biểu diễn vận tốc dòng máu qua động mạch sẽ thấy mất hình ảnh 3 pha ở động mạch bình thường.

trường hợp có xơ vữa động mạch siêu âm có thể xác định mức độ xơ vữa thành mạch. Siêu âm doppler còn cho phép khảo sát lưu lượng máu động mạch dưới chỗ tắc qua đó có thể đánh giá sự lan rộng của cục máu đông thứ phát và chất lượng của các vòng nối ở vùng động mạch bị tắc.

III. Phân loại TĐMNCCT:

Dựa trên cơ chế hình thành khốI tắc mạch hầu hết các tác giả chi TĐMNCCT thành 2 nhóm:

- Nghẽn động mạch cấp tính.

- Huyết khối động mạch cấp tính.

Nghẽn động mạch cấp tính:

Hầu hết nghẽn động mạch xảy ra do vật nghẽn mạch từ tim đi xuống, chỉ một số nhỏ xuất phát từ các túi phình động mạch hoặc do bong mảng xơ vữa ở các động mạch lớn. Đa số bệnh nhân nghẽn động mạch đều có bệnh tim đi kèm, các bệnh thường gặp là bệnh cơ tim thiếu máu, bệnh van tim hậu thấp, đặc biệt là các trường hợp có rung nhĩ.

Nghẽn động mạch do bệnh van tim hậu thấp thường thấy ở người trẻ tuổi, ít có tổn thương thành động mạch. Bệnh van tim thường gây nghẽn động mạch nhất là hẹp van 2 lá, cục máu đông hình thành trong tiểu nhĩ trái do rối loạn về huyết động học nhất là khi có rung nhĩ.

Trong khi đó, nghẽn động mạch do bệnh co tim thiếu máu hay do xơ vữa động mạch thường thấy ở bệnh nhân lớn tuổi và thành mạch ít nhiều bị tổn thương. Thường các trường hợp này cục máu đông hình thành do nhồi máu dưới nội tâm mạc, một số trường hợp hình thành trong tiểu nhĩ hoặc trong phình tâm thất do rối loạn huyết động.

Huyết khối động mạch cấp tính:

Trong huyết khối động mạch bao giờ cũng có tổn thương thành động mạch tại chỗ tắc động mạch. Các tổn thương này thường được đánh giá dựa trên XQ động mạch, siêu âm động mạch và ngay trong khi mổ. trong một số trường hợp việc xác định chỉ có thể khẳng định khi có kết quả giải phẫu bệnh lý.

Chấn thương thành mạch là nguyên nhân thường gặp nhất trong huyết khối động mạch, thường những trường hợp này hay xãy ra trên bệnh nhân bị chấn thương mạch trên động mạch và có thể kèm gãy các xương dài ở chi. Ngoài ra cần kể đến chấn thương do các thủ thuật trên động mạch như chụp XQ động mạch, thông tim, tạo hình động mạch xuyên lòng động mạch qua da. Sự hình thành cục máu đông trên các vết lóet của mảng xơ vữa động mạch cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong huyết khối động mạch cấp tính.

IV. Chẩn đoáng TĐMNCCT:

Chẩn đoán TĐMNCCT trên lâm sàng dựa vào các biểu hiện của hội chấn thiếu máu nuôi chi cấp tính với các triệu chứng: đau, chi tái và lạnh, dị cảm, mất mạch ngoại biên và liệt cơ.

Đa số các trường hợp việc chẩn đoán được dựa trên các triệu chứng lâm sàng với các bệnh cảnh đặc hiệu, tuy nhiên trong một số trường hợp chẩn đoán tắc động mạch cấp tính chỉ đuợc xác định sau khi có kết quả siêu âm Doppler và XQ động mạch.

V. Đánh giá mức độ tổn thương mô do TĐMNCCT

Việc đánh giá mức độ tổn thương mô do TĐMNCCT rất quan trọng trong việc quyết định cách xử trí và tiên lượng. Cho tới nay việc đánh giá mức độ tổn thương mô do thiếu máu nuôi vẫn chủ yếu dựa vào lâm sàng.

Một số công trình nghiên cứu trên thực nghiệm nhằm xác định mức độ thiếu máu nuôi cũng như mức độ hoại tử cơ bằng các chất đồng vị phóng xạ như technetium_99M_pyrophosphat (PPi).

Trên lâm sàng để đánh giá mức độ thiếu máu nuôi mô người ta dựa treân các biểu hiện liệt cơ, biểu hiện tím và mất cảm giác ngoài da.

Hoại tử chi rõ khi: bệnh nhân mất cảm giác đau, da tím đen hoặc có những đốm tím không biến mất khi đè, cơ bị liệt hoàn toàn.

Đe doạ hoại tử chi khi: da có các mảng tím nhưng khi ấn vào còn biến mất, cơ co cứng và giảm hoặc mất khả năng vận động.

Chưa có dấu hiệu hoại tử chi khi: bệnh nhân còn đau nhiều, da trắng nhợt, cơ còn vận động được.

VI. Xác định nguyên nhân:

Chẩn đoán nguyên nhân TĐMNCCT là một vấn đề không phải lúc nào cũng thực hiện được trước khi phẫu thuật. Trong huyết khốI động mạch hầu như bao giờ cũng xác định được nguyên nhân truớc hoặc trong mổ. Trái lại trong nghẽn động mạch nhiều trường hợp sau khi mổ vẫn không xác định được nguyên nhân.

Việc xác định nguyên nhân không nhất thiết phải làm trước mổ vì như thế sẽ bỏ mất thời gian vàng ngọc cho quá trình xử lý phẫu thuật.

Để xác định nguyên nhân trong nghẽn động mạch cần thiết làm siêu âm tim và hệ thống động mạch một cách toàn diện để xác định vị trí nguyên phát của khối nghẽn mạch.

VII. Các vấn đề về điều trị

Các phương pháp điều trị phẫu thuật

Đa số các tác giả đều chấp nhận phẫu thuật là phương pháp tốt nhất trong điều trị TĐMNCCT.

Việc chọn lựa phương pháp phẫu thuật cần dựa trên mức độ tổn thương mô do tắc động mạch, tình trạng tổn thương của hệ thống động mạch và nguyên nhân TĐMNCCT.

>> Chữa trị các bệnh khác
 
 
GIỚI THIỆU CÔNG TY
Đông y gia truyền Thương Thảo thừa kế nhiều đời, lương y Hồ Sỹ Ái, nguyên chủ tịch đông y Hà Tĩnh, lương y cao cấp từ năm 1977 – 1979.Ông là một trong những cán bộ nguồn quốc gia...
LIÊN KẾT QUẢNG CÁO
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
van phong - 0985705931

Tư vấn - 0986.704.567
Hôm nay: 45 - Tất cả: 1,047,760
Trang chủ |  Giới thiệu  |  Tin tức  |  Chữa trị các bệnh  |  Thuốc bổ chữa bệnh  |  Cây thuốc quý  |  Dành cho bệnh nhân  |  Bảng tra cứu Huyệt Vị  |  Thuốc do nhà thuốc bào chế  |  CÁC BÀI THUỐC  | Liên hệ
Công ty TNHH Y dược Thương Thảo
Địa chỉ: Khối 3 - Thị trấn Nghi Xuân - Hà Tĩnh
Điện thoại: 0986.704.567 - 0985.705.931
Email: yduocthuongthao@gmail.com - Website: http://yduocthuongthao.com